Tin hoạt động Kiểm Tra sau thông quan

Bàn về kỹ năng thu thập và xử lý thông tin để làm rõ nghĩa vụ thuế

Về vai trò quan trọng của thông tin, V.I.Lênin đã khẳng định: “Không có thông tin thì không có thắng lợi trong bất cứ lĩnh vực nào, cả khoa học, kỹ thuật và sản xuất”. Ngày nay, việc thu thập và xử lý thông tin với sự trợ giúp của phương tiện công nghệ thông tin ngày càng thuận lợi nhiều hơn. Trong công tác quản lý Hải quan, việc thu thập và xử lý thông tin đối với hàng hoá XNK thương mại và nghĩa vụ thuế của người khai hải quan vừa là chìa khoá cơ sở cho quyết định thông quan hàng hoá “nhanh, chính xác”, vừa góp phần đảm bảo hiệu quả thu đúng, thu đủ tiền thuế nộp ngân sách Nhà nước. 
Thực tế bên cạnh nhiều người khai hiểu biết và chấp hành đúng quy định pháp luật, số các trường hợp miễn kiểm tra trong thông quan còn tiềm ẩn nhiều rủi ro khai báo hải quan dẫn đến gian lận hoặc trốn nghĩa vụ thuế. Việc thu thập và xử lý thông tin tương ứng với yêu cầu các bước quy trình nghiệp vụ KTSTQ hỗ trợ xác lập cơ sở thông tin chứng cứ để làm rõ nghĩa vụ thuế của người khai hải quan. Nhưng không phải mọi thông tin đều là căn cứ làm rõ tính chính xác, trung thực về thực hiện nghĩa vụ thuế và tự bản thân nhiệm vụ TTXLTT, quy trình, quy định pháp luật không trở nên hiệu lực, hiệu quả mà phải thông qua hoạt động của công chức. Nói cách khác, chính kỹ năng thực tiễn của công chức trong hành động thu thập và xử lý thông tin quyết định hiệu quả xác lập các căn cứ chính xác, khách quan làm rõ nội hàm nghĩa vụ thuế của người khai hải quan để kịp thời phát hiện, ngăn chăn và xử lý hành vi vi phạm đúng theo quy định pháp luật. Nếu thiếu các kỹ năng quan trọng này thì cũng là đồng nghĩa với không có thông tin chính xác chứng minh về việc thực hiện nghĩa vụ thuế, dẫn đến thiếu căn cứ pháp lý, kết luận chủ quan hoặc có thể loại bỏ ngay thông tin có mối liên hệ với hiện thực chưa phát hiện được hay là có hỗ trợ cho việc làm rõ dấu hiệu, hành vi vi phạm về thuế trong lĩnh vực hải quan.
Thứ nhất là kỹ năng thống kê và đối chiếu thông tin. Kỹ năng này đòi hỏi  công chức phải tiến hành phương pháp, nguyên tắc thống kê và đối chiếu trở thành thói quen trong làm việc. Đây là kỹ năng quan trọng đầu tiên của việc thu thập và xử lý thông tin. Vì từ kết quả thu thập dữ liệu thông tin bao gồm các ký tự chữ, số hoặc ký hiệu phản ánh mô tả về hàng hoá xuất nhập khẩu trong thời gian nhất định, công chức cần phân loại, ghi chép lại các thông tin có sự thống nhất và có sự khác biệt (như loại hình, đơn giá, trị giá, đơn vị đo lường...), trên cơ sở đó, kết xuất ra file để thống kê, đối chiếu, đánh giá, nhận dạng thông tin dấu hiệu hoặc có khả năng rủi ro và định hướng gắn với hàng hoá, tờ khai, tên và địa chỉ doanh nghiệp.
Ví dụ: Qua thu thập và tiến hành sàng lọc, thống kê các thông tin hàng hoá cho thấy có tổ máy phát điện và tổ máy thuỷ điện..., cùng mã số: 8502392000 nhưng lại khác nhau về loại hình, trị giá, số lượng... Sau khi kết xuất thông tin ra file dữ liệu, công chức tìm được một số tờ khai và tên, địa chỉ Công ty có bao gồm nhiều loại máy móc, trong khi có tờ khai của công ty A với đơn nhất một tên hàng tổ máy thuỷ điện..., trị giá có chênh lệch rất lớn so với trị giá hàng hoá cùng mã số, thuế suất. (Tại đây sau khi đối chiếu thu được một số đánh giá nhận định).
Để củng cố cho đánh giá, phân tích về nghĩa vụ thuế của Công ty A, công chức cần chủ động thu thập tìm thêm thông tin từ bộ hồ sơ hải quan, chú giải phân loại hàng hoá, hồ sơ thiết kế công trình và có thể tìm hiểu nắm thông tin trên địa bàn để đối chiếu, rút ra nhận định về khả năng khai sai vì Công trình nhà máy thuỷ điện gồm nhiều loại máy móc, thiết bị được lắp đặt và trả lời cho các vấn đề như có tập hợp các máy thuỷ điện không ? cở sở căn cứ khai tên hàng là gì? khai sai hoặc không khai những gì ? để tiếp tục thực hiện thu thập và xử lý thông tin cho mục đích làm rõ nghĩa vụ thuế.

Thứ hai là kỹ năng tư duy logíc. Một cuộc kiểm tra sau thông quan hiệu quả cần tổ chức làm việc nhóm. Để lập luận tư duy, trước hết công chức cần nắm vững về chức năng của các chứng từ thương mại trong bộ hồ sơ hải quan gồm có: 1. các chứng từ về hàng hoá (hợp đồng, hoá đơn, giấy chứng nhận xuất xứ, phiếu đóng gói hàng hoá, giấy chứng nhận về chất lượng - số lượng - trọng lượng, giấy phép, giấy chứng nhận kiểm dịch, giấy chứng nhận an toàn vệ sinh), 2. chứng từ vận tải (gồm vận đơn và/hoặc hợp đồng vận chuyển hàng hoá), 3. chứng từ bảo hiểm hàng hoá (hợp đồng bảo hiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm và/hoặc phiếu bảo hiểm). Điều này hỗ trợ cho việc thu thập tài liệu và yêu cầu giải trình để tiến hành đối chiếu, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá về đầu mối lập luận dẫn chứng.

Chính năng lực trình độ hiểu biết về quy định chính sách, khả năng tư duy lập luận rất quan trọng trong việc hệ thống nắm chắc toàn bộ các thông tin liên quan hoạt động của đối tượng khai thuế nhưng lưu ý điểm xuất phát cho việc khai thực hiện nghĩa vụ thuế không phải bắt đầu từ quy định, từ hồ sơ, tài liệu mà là bằng thực tiễn hoạt động của họ. Cho nên để thu thập và xử lý thông tin phục vụ cho lập luận, giải mã cho tính chính xác, trung thực khách quan liên quan đến nghĩa vụ thuế cần phải logíc với thực tế hoạt động có phát sinh nghĩa vụ thuế và với việc xem xét các thông tin có mối liên hệ với thực tế các hàng hoá khai làm thủ tục. Từ việc hệ thống nắm rõ thông tin hàng hoá, hoạt động XNK, công chức cần lập luận phân tích xác định nội dung căn cứ có cơ sở chính xác khách quan để làm rõ nghĩa vụ thuế của người khai hải quan.
Thứ ba là kỹ năng định hướng. Đó là kỹ năng xác định chính xác hướng nghiên cứu, kiểm tra và lập luận xử lý đúng tình huống vụ việc để đạt mục đích chỉ rõ căn cứ chính xác chứng minh về nghĩa vụ thuế. Kỹ năng định hướng đòi hỏi khả năng vận dụng một cách phù hợp hiệu quả các bước thu thập và xử lý thông tin và sự kiên nhẫn, thấu tình đạt lý trong từng nội dung làm việc để làm rõ tính chính xác, khách quan của việc thực hiện nghĩa vụ thuế đảm bảo nguyên tắc ấn định thuế. 
Một doanh nghiệp được đánh giá tuân thủ tốt quy định pháp luật và đáp ứng các điều kiện được áp dụng chế độ áp ưu tiên (DN AEO) theo quy định thì được hưởng lợi ích từ ưu tiên miễn kiểm tra hồ sơ, miễn ktra thực tế hàng hoá, không KTSTQ... Mục tiêu quan trọng cuối cùng của kết quả công tác KTSTQ không có nghĩa ấn định thu thuế là bao nhiêu tỷ đồng từ sai phạm phía doanh nghiệp mà là kiểm tra mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, qua đó có phương pháp quản lý phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp và doanh nghiệp nhận thức nâng cao năng lực tuân thủ pháp luật trong khai thuế hải quan./.
 
Tags:

Tin khác: