Tin hoạt động Sự kiện

Những nội dung cơ bản của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Ngày 06/4/2016, tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2016; Chủ tịch nước đã ký lệnh số 07/2016/L-CTN ngày 19/4/2016 công bố Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Luật này có hiệu lực từ ngày 01/9/2016 và bãi bỏ Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005.

Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã được Quốc hội khóa XIII thông qua nhằm đáp ứng xu thế phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó Việt Nam là thành viên của nhiều liên minh thuế quan và là mắt xích quan trọng của chuỗi cung ứng thương mại quốc tế, tham gia ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu khắc phục một số bất cập, hạn chế quy định tại Luật Thuế XNK số 45/2005/QH11 và nhằm góp phần khuyến khích phát triển và bảo hộ hợp lý sản xuất kinh doanh trong nước; hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất với các Luật có liên quan đặc biệt là Luật Quản lý thuế, Luật Hải quan, Luật Đầu tư, Luật Thương mại… đồng thời, khắc phục các vướng mắc phát sinh; đảm bảo thực thi các cam kết quốc tế và điều ước quốc tế về thuế XNK, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; thúc đẩy cải cách, hiện đại hóa thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho người nộp thuế, cải thiện môi trường kinh doanh.

Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu gồm 22 Điều, được bố cục thành 5 Chương, cụ thể: Chương I: Những quy định chung, có 4 Điều (từ Điều 1 đến Điều 4); Chương II: Căn cứ tính thuế, thời điểm tính thuế và biểu thuế, có 7 Điều (từ Điều 5 đến Điều 11); Chương III: Thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế tự vệ, có 4 Điều (từ Điều 12 đến Điều 15); Chương IV: Miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, có 4 Điều (từ Điều 16 đến Điều 19); Chương V: Điều khoản thi hành, có 3 Điều (từ Điều 20 đến Điều 22).

Nội dung được sửa đổi, bổ sung của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, gồm 4 nhóm vấn đề chính sau:

- Nhóm vấn đề thứ nhất, sửa đổi, bổ sung để khuyến khích phát triển và bảo hộ hợp lý sản xuất kinh doanh trong nước phù hợp định hướng phát triển của Đảng, Nhà nước và các cam kết quốc tế đã ký kết, như: Bổ sung một số nội dung quy định về thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp, thuế tự vệ; Sửa đổi nguyên tắc ban hành Biểu thuế, thuế suất; Sửa đổi thẩm quyền ban hành Biểu thuế XK, thuế NK và Biểu Khung thuế xuất khẩu; Sửa đổi, bổ sung quy định về miễn thuế hàng nhập khẩu của dự án ưu đãi đầu tư để thống nhất với quy định tại Luật đầu tư số 67/2014/QH13; Bổ sung quy định về miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu là phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong nước chưa sản xuất được nhằm góp phần hỗ trợ lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp phát triển; Bổ sung quy định về miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu là máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật tư linh kiện, bộ phận, phụ tùng nhập khẩu phục vụ hoạt động in, đúc tiền…

- Nhóm vấn đề thứ hai, sửa đổi, bổ sung để góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, thống nhất với văn bản pháp luật liên quan; đồng thời khắc phục các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Luật thuế XNK hiện hành, như: Sửa đổi quy định về đối tượng chịu thuế, người nộp thuế; Sửa đổi quy định về thuế suất thông thường; Sửa đổi quy định về trị giá tính thuế và thời điểm tính thuế; Sửa đổi quy định miễn thuế đối với hàng hóa mua bán trao đổi của cư dân biên giới...

- Nhóm vấn đề thứ ba, sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thông lệ quốc tế, như: Bổ sung quy định về áp dụng thuế xuất khẩu đối với trường hợp có hàng hóa xuất khẩu sang nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ có thỏa thuận ưu đãi về thuế xuất khẩu trong quan hệ thương mại với Việt Nam; Bổ sung quy định về áp dụng thuế suất đối với hàng hóa từ khu phi thuế quan nhập khẩu vào thị trường nội địa đáp ứng các điều kiện về xuất xứ thì được áp dụng theo mức thuế suất ưu đãi tương ứng; Bổ sung quy định thời hạn nộp thuế đối với người nộp thuế được áp dụng chế độ ưu tiên theo quy định của Luật hải quan theo hướng được thực hiện nộp thuế cho các tờ khai hải quan đã thông quan hoặc giải phóng hàng hóa chậm nhất vào ngày 10 của tháng kế tiếp...

- Nhóm vấn đề thứ tư, sửa đổi, bổ sung nhằm đơn giản hóa, tạo thuận lợi cho người nộp thuế; góp phần thực hiện cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, như: Chuyển hàng hóa là nguyên liệu, vật tư nhập để sản xuất hàng xuất khẩu từ đối tượng phải nộp thuế khi nhập khẩu, được hoàn thuế khi xuất khẩu sang đối tượng miễn thuế để khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu, đơn giản thủ tục hành chính, phù hợp với thông lệ quốc tế; Chuyển hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất từ đối tượng chịu thuế ở khâu nhập khẩu và thực hiện hoàn thuế khi xuất khẩu sang đối tượng miễn thuế có điều kiện về bảo lãnh, đặt cọc phù hợp với thông lệ quốc tế…

Bổ sung đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Về người nộp thuế, Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2005 quy định tên tổ chức, cá nhân nộp thuế là “đối tượng nộp thuế”. Quy định này hiện không còn phù hợp với khái niệm người nộp thuế của Luật quản lý thuế và chưa có sự thống nhất với quy định về người khai hải quan của Luật hải quan. Theo đó, chưa bao quát hết các trường hợp người nộp thuế trên thực tế như các trường hợp được ủy quyền, bảo lãnh và nộp thay thuế, gồm: đại lý làm thủ tục hải quan doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát nhanh nộp thay cho người nộp thuế; tổ chức tín dụng trong trường hợp bảo lãnh, nộp thay thuế cho người nộp thuế; người xử lý tài sản đảm bảo trong trường hợp tài sản đảm bảo chưa nộp thuế; người kinh doanh, tiêu thụ, sử dụng hàng hóa chưa nộp thuế nhập khẩu.

Theo đó, để thống nhất với Luật quản lý thuế, Luật hải quan, khắc phục vướng mắc hiện hành, tại Điều 3 Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2016 sử dụng cụm từ người nộp thuế và bổ sung các trường hợp người nộp thuế trên thực tế. Cụ thể:  “1. Chủ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. 2. Tổ chức nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu. 3. Người xuất cảnh, nhập cảnh có hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, gửi hoặc nhận hàng hoá qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam. 4. Người được ủy quyền, bảo lãnh và nộp thuế thay cho người nộp thuế, bao gồm: a) Đại lý làm thủ tục hải quan trong trường hợp được người nộp thuế uỷ quyền nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; b) Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế trong trường hợp nộp thuế thay cho người nộp thuế; c) Tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng trong trường hợp bảo lãnh, nộp thuế thay cho người nộp thuế; d) Người được chủ hàng hóa ủy quyền trong trường hợp hàng hóa là quà biếu, quà tặng của cá nhân; hành lý gửi trước, gửi sau chuyến đi của người xuất cảnh, nhập cảnh; đ) Chi nhánh của doanh nghiệp được ủy quyền nộp thuế thay cho doanh nghiệp; e) Người khác được ủy quyền nộp thuế thay cho người nộp thuế theo quy định của pháp luật. 5. Người thu mua, vận chuyển hàng hóa trong định mức miễn thuế của cư dân biên giới nhưng không sử dụng cho sản xuất, tiêu dùng mà đem bán tại thị trường trong nước và thương nhân nước ngoài được phép kinh doanh hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ở chợ biên giới theo quy định của pháp luật. 6. Người có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế nhưng sau đó có sự thay đổi và chuyển sang đối tượng chịu thuế theo quy định của pháp luật. 7. Trường hợp khác theo quy định của pháp luật”.

Quy định hiện hành thì đối tượng chịu thuế chỉ gồm:

- Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam.

- Hàng hóa xuất khẩu từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan, hàng hóa nhập khẩu từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước.

Căn cứ tính thuế, thời điểm tính thuế, biểu thuế

- Về căn cứ tính thuế, Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2005 không quy định mỗi phương pháp tính thuế ở một điều riêng và xác định căn cứ tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là số lượng đơn vị từng mặt hàng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu ghi trong tờ khai hải quan, giá tính thuế, thuế suất theo tỷ lệ phần trăm (%). Thực tế, trị giá tính thuế cũng được xác định dựa trên các căn cứ này. Do đó, để bảo đảm tính khái quát và minh bạch, Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2016 quy định cụ thể, tách biệt căn cứ tính thuế đối với từng loại thuế theo tỷ lệ phần trăm, thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, theo đó:

+ Khoản 1 Điều 5 Luật quy định: “Số tiền thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được xác định căn cứ vào trị giá tính thuế và thuế suất theo tỷ lệ phần trăm (%) của từng mặt hàng tại thời điểm tính thuế”.

+ Điều 6 Luật quy định: “1. Số tiền thuế áp dụng phương pháp tính thuế tuyệt đối đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được xác định căn cứ vào lượng hàng hóa thực tế xuất khẩu, nhập khẩu và mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hóa tại thời điểm tính thuế. 2. Số tiền thuế áp dụng phương pháp tính thuế hỗn hợp đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được xác định là tổng số tiền thuế theo tỷ lệ phần trăm và số tiền thuế tuyệt đối theo quy định tại khoản 1 Điều 5 và khoản 1 Điều 6 của Luật này.”

- Về áp dụng thuế xuất khẩu ưu đãi, để phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế với các cam kết liên quan về thuế xuất khẩu, tạo điều kiện cho việc thực hiện các cam kết cắt giảm thuế xuất khẩu trong khuôn khổ một số hiệp định thương mại tự do FTA quan trọng như TPP, Việt Nam - EU, Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2016 tại khoản 2 Điều 5 đã bổ sung nội dung: “Trường hợp hàng hóa xuất khẩu sang nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ có thỏa thuận ưu đãi về thuế xuất khẩu trong quan hệ thương mại với Việt Nam thì thực hiện theo các thỏa thuận này”.

- Bổ sung quy định về việc áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt đối với hàng hóa sản xuất trong khu phi thuế quan nhập khẩu vào thị trường trong nước (điểm b khoản 3 Điều 5): theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2005 thì quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa giữa khu phi thuế quan với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu. Tuy nhiên, Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2005 chưa có quy định về loại thuế suất được áp dụng (thuế nhập khẩu ưu đãi, ưu đãi đặc biệt hay thuế thông thường) khi hàng hóa từ khu phi thuế quan nhập khẩu vào thị trường nội địa. Hiện nay, các loại hàng hóa sản xuất trong khu phi thuế quan nếu đáp ứng điều kiện xuất xứ (C/O) như các loại hàng hóa khác thì khi nhập khẩu vào thị trường nội địa cũng kê khai, nộp thuế nhập khẩu dựa theo C/O này. Do đó, để bao quát hết được các trường hợp phát sinh trên thực tiễn, đảm bảo minh bạch, điểm b khoản 3 Điều 5 Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2016 quy định: “...b) Thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ có thỏa thuận ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu trong quan hệ thương mại với Việt Nam; hàng hóa từ khu phi thuế quan nhập khẩu vào thị trường trong nước đáp ứng điều kiện xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ có thỏa thuận ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu trong quan hệ thương mại với Việt Nam”.

- Về thuế đối với hàng hóa nhập khẩu áp dụng hạn ngạch thuế quan, theo cam kết trong WTO, Việt Nam được áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với 4 nhóm mặt hàng gồm: trứng gia cầm, đường, muối, lá thuốc lá và không bị ràng buộc về thời gian áp dụng hay phải xóa bỏ. Bên cạnh WTO, Việt Nam cũng có một số cam kết về hạn ngạch thuế quan trong các hiệp định thương mại tự do FTA (ATIGA, AANZFTA, VCU, TPP). Do đó, để bảo đảm cơ sở pháp lý thực hiện, đồng thời phù hợp với thông lệ, cam kết quốc tế, đáp ứng yêu cầu quản lý trong từng giai đoạn, Điều 7 Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2016 quy định:

“1. Hàng hóa nhập khẩu trong hạn ngạch thuế quan áp dụng thuế suất, mức thuế tuyệt đối theo quy định tại khoản 3 Điều 5 và Điều 6 của Luật này. 2. Hàng hóa nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan áp dụng thuế suất, mức thuế tuyệt đối ngoài hạn ngạch do cơ quan có thẩm quyền tại khoản 1 Điều 11 của Luật này quy định”.

- Về trị giá tính thuế, khoản 1 Điều 9 Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2005 quy định: “1. Giá tính thuế đối với hàng hoá xuất khẩu là giá bán tại cửa khẩu xuất theo hợp đồng. 2. Giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên theo hợp đồng”. Theo đó, việc xác định trị giá tính thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu phụ thuộc vào hợp đồng. Trên thực tế trị giá theo hợp đồng trong một số trường hợp không bao gồm đầy đủ các chi phí phát sinh liên quan đến lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu trong khi đó các chi phí này là bộ phận cấu thành trị giá tính thuế. Ngoài ra, đối với một số trường hợp, có một số chi phí mặc dù nằm trong giá hợp đồng nhưng lại được loại trừ ra khỏi trị giá hợp đồng khi xác định trị giá tính thuế. Bên cạnh đó, Điều 86 Luật hải quan năm 2014 đã quy định: Trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu là giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất, không bao gồm phí bảo hiểm và phí vận tải quốc tế. Trị giá hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên, phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam là thành viên.

Theo đó, để phù hợp với Hiệp định trị giá hải quan của WTO (GATT) và thống nhất với Luật hải quan, tại khoản 1, Điều  8 Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2016 quy định: Trị giá tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là trị giá hải quan theo quy định tại Luật hải quan”.

- Về thời điểm tính thuế, Điều 14 Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2005 quy định: “Thời điểm tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là thời điểm đăng ký tờ khai hải quan”. Quá trình thực hiện thời gian qua cho thấy quy định này chưa phù hợp với trường hợp chuyển đổi đối tượng sử dụng so với khi nhập khẩu ban đầu - chuyển từ đối tượng miễn thuế sang đối tượng chịu thuế (mức thuế suất, tỷ giá, trị giá khi đăng ký tờ khai khác với khi chuyển đổi mục đích sử dụng). Theo đó, để xử lý vướng mắc đối với trường hợp hàng hóa được ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhưng có sự thay đổi về mục đích sử dụng, tại khoản 2 Điều 8 Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2016 quy định thời điểm tính thuế như sau: “2. Thời điểm tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là thời điểm đăng ký tờ khai hải quan. Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hoặc áp dụng thuế suất, mức thuế tuyệt đối trong hạn ngạch thuế quan nhưng được thay đổi về đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, áp dụng thuế suất, mức thuế tuyệt đối trong hạn ngạch thuế quan theo quy định của pháp luật thì thời điểm tính thuế là thời điểm đăng ký tờ khai hải quan mới. Thời điểm đăng ký tờ khai hải quan thực hiện theo quy định của pháp luật về hải quan”.

- Về thời hạn nộp thuế, Luật quản lý thuế hiện hành quy định phải nộp thuế trước khi thông quan đối với hàng xuất khẩu, nhập khẩu để kinh doanh, chưa phân biệt mức độ chấp hành tốt pháp luật của doanh nghiệp. Hiện nay, có 42 doanh nghiệp ưu tiên với tổng số kim ngạch xuất nhập khẩu khoảng 67,47 tỷ USD theo các tiêu chí của quốc tế. Nếu quy định các doanh nghiệp này phải nộp thuế trước khi thông quan hoặc giải phóng hàng như các doanh nghiệp khác là chưa hợp lý, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, chưa thể hiện ưu đãi đối với các doanh nghiệp này. Để khắc phục các vướng mắc trên, đồng thời bảo đảm phù hợp với việc chuyển nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất, xuất khẩu và hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất từ đối tượng hoàn thuế sang đối tượng miễn thuế, tại khoản 2 Điều 9 Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2016 đã sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn nộp thuế như sau: “…2. Người nộp thuế được áp dụng chế độ ưu tiên theo quy định của Luật hải quan được thực hiện nộp thuế cho các tờ khai hải quan đã thông quan hoặc giải phóng hàng hóa trong tháng chậm nhất vào ngày thứ mười của tháng kế tiếp. Quá thời hạn này mà người nộp thuế chưa nộp thuế thì phải nộp đủ số tiền nợ thuế và tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế”.

- Về nguyên tắc ban hành biểu thuế, thuế suất, Điều 12 Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2005 quy định một số nguyên tắc xây dựng biểu thuế, mức thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu làm cơ sở để Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành mức thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cho từng mặt hàng. Tuy nhiên, trong bối cảnh thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan theo các hiệp định thương mại tự do thì một số nguyên tắc tại Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2005 đã không còn phù hợp như nguyên tắc bảo đảm nguồn thu ngân sách; đồng thời, qua quá trình thực hiện cho thấy các nguyên tắc ban hành biểu thuế hiện hành chưa đảm bảo tính hợp lý giữa thuế suất thuế nhập khẩu áp dụng đối với nguyên liệu, vật tư, linh kiện, phụ tùng, bán thành phẩm và sản phẩm nguyên chiếc; một số trường hợp thuế nhập khẩu của nguyên vật liệu cao hơn linh kiện, phụ tùng quan trọng trong nước chưa sản xuất được, cao hơn sản phẩm nguyên chiếc dẫn đến không khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ, không khuyến khích sản xuất để tạo thêm giá trị gia tăng; số lượng mức thuế suất của biểu thuế còn nhiều, tạo nên sự phức tạp, dễ nhầm lẫn, tranh chấp trong kê khai, tính thuế.

Để khắc phục và góp phần phát triển sản xuất trong nước; thúc đẩy cải cách hành chính, đơn giản hóa biểu thuế, thu gọn mức thuế suất, đảm bảo đơn giản, tạo thuận lợi cho cải cách thủ tục hành chính, phù hợp với chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước đối với công nghệ cao, công nghệ nguồn, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, Điều 10 Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2016 quy định nguyên tắc ban hành biểu thuế, thuế suất như sau:  “1. Khuyến khích nhập khẩu nguyên liệu, vật liệu, ưu tiên loại trong nước chưa đáp ứng nhu cầu; chú trọng phát triển lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ nguồn, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường. 2. Phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và các cam kết về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. 3. Góp phần bình ổn thị trường và nguồn thu ngân sách nhà nước. 4. Đơn giản, minh bạch, tạo thuận lợi cho người nộp thuế và thực hiện cải cách thủ tục hành chính về thuế. 5. Áp dụng thống nhất mức thuế suất đối với hàng hóa có cùng bản chất, cấu tạo, công dụng, có tính năng kỹ thuật tương tự; thuế suất thuế nhập khẩu giảm dần từ thành phẩm đến nguyên liệu thô; thuế suất thuế xuất khẩu tăng dần từ thành phẩm đến nguyên liệu thô”.

- Về thẩm quyền ban hành biểu thuế, thuế suất, khoản 1 Điều 12 của Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2005 quy định: Thủ tướng Chính phủ quyết định mặt hàng áp dụng thuế tuyệt đối và mức thuế tuyệt đối trong trường hợp cần thiết (thực tế chỉ áp dụng đối với sản phẩm duy nhất là ô tô cũ đã qua sử dụng), Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành mức thuế suất thuế nhập khẩu còn lại. Thực tế thời gian qua cho thấy, thực hiện như quy định trên đã phát huy được tác dụng tích cực, tạo sự linh hoạt để kịp thời điều chỉnh thuế suất trước những biến động giá trên thế giới, góp phần bình ổn giá cả thị trường trong nước. Tuy nhiên, quy định mức thuế xuất khẩu và khung thuế suất thuế xuất khẩu luôn có những ý kiến khác nhau giữa các Bộ, cơ quan liên quan, giữa các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau. Do vậy, cần giao Chính phủ quy định cho phù hợp với thực tế và yêu cầu quản lý, phù hợp xu hướng phát triển. Để khắc phục hạn chế nói trên, đảm bảo phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Điều 11 Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2016 quy định: “1. Chính phủ căn cứ quy định tại Điều 10 Luật này, Biểu thuế xuất khẩu theo Danh mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất thuế xuất khẩu đối với từng nhóm hàng chịu thuế ban hành kèm theo Luật này, Biểu thuế ưu đãi cam kết tại Nghị định thư gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã được Quốc hội phê chuẩn và các điều ước quốc tế khác mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để ban hành: a) Biểu thuế xuất khẩu; Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi; b) Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi; Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt; c) Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan”.

Quy định này sẽ tạo ra sự ổn định cao hơn của Biểu thuế và phù hợp với xu hướng Việt Nam tham gia sâu rộng vào các hiệp định thương mại tự do FTA khi lộ trình cắt giảm thuế quan đã được xác định và phải tuân thủ thực hiện theo đúng cam kết. Bên cạnh đó, đối với thuế xuất nhập khẩu, trên thực tế 90% kim ngạch xuất khẩu có mức thuế đã được cam kết (mức trần đối với hàng hóa nhập khẩu) tại các Hiệp định tự do hóa thương mại. Việc thực hiện cam kết này có lộ trình từ 3-5 năm, tùy Hiệp định…

Tags:

Tin khác: