Tin hoạt động Sự kiện

Cục Hải quan Hà Giang: Triển khai thực hiện Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP của Chính phủ

Ngày 20/7/2016 Cục Hải quan tỉnh Hà Giang đã ban hành Kế hoạch số 1027/HQHG-KH để triển khai thực hiện Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 của Chính Phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016-2017, định hướng đến năm 2020.

Trên cơ sở Quyết định số 1772/QĐ-TCHQ ngày 10/6/2016 của Tổng cục Hải quan ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 của Chính Phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; Kế hoạch số 164/KH-UBND ngày 13/7/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh,nâng cao chỉ số Năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016-2017, định hướng đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Hà Giang; Căn cứ chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tế Cục Hải quan đã xây dựng Kế hoạch triển khai để tổ chức thực hiện có hiệu quả và đạt được các mục tiêu của Nghị quyết đã đề ra.

Theo đó mục tiêu chung của Cục Hải quan tỉnh Hà Giang là tiếp tục đẩy mạnh cải cách, hiện đại hóa, nhằm thúc đẩy tạo thuận lợi thương mại, kiểm soát tuân thủ, đảm bảo nguồn thu, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa qua biên giới; Giảm thiểu giấy tờ, rút ngắn thời gian, giảm chi phí trong thực hiện các thủ tục hành chính trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Thay đổi căn bản phương thức quản lý, kiểm tra chuyên ngành, thực hiện nguyên tắc quản lý trên cơ sở đánh giá rủi ro, áp dụng rộng rãi thông lệ quốc tế, chuyển căn bản từ tiền kiểm sang hậu kiểm; điện tử hóa thủ tục quản lý, kiểm tra chuyên ngành, kết nối chia sẻ thông tin giữa các cơ quan, tổ chức quản lý, kiểm tra chuyên ngành với cơ quan hải quan. Qua đó, góp phần thiết thực cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia;Tạo môi trường thông thoáng thuận lợi thúc đẩy thu hút các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, đặc biệt là xuất khẩu hàng hóa, đầu tư và du lịch phát triển qua các cửa khẩu của tỉnh nhằm bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tăng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu, tăng thu thuế xuất nhập khẩu cho nhà nước theo đúng quy định của pháp luật; thúc đẩy phát triển kinh tế biên mậu gắn với đảm bảo quốc phòng an ninh biên giới và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quản lý hải quan, đảm bảo công tác phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, không để xảy ra điểm nóng về buôn lậu trên địa bàn quản lý góp phần đảm bảo an ninh kinh tế quốc gia. 

Trong đó, kế hoạch cũng đưa ra các chỉ tiêu chủ yếu như: Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa qua biên giới so với quy định của ngành và tỉnh: tối đa 9 ngày đối với hàng hóa xuất khẩu (chỉ tiêu của Tổng cục Hải quan và UBND tỉnh: 10 ngày), 11 ngày đối với hàng hóa nhập khẩu (chỉ tiêu của Tổng cục Hải quan và UBND tỉnh 12 ngày); Mục tiêu đến năm 2020, giảm thời gian thông quan hàng hóa qua biên giới dưới 33 giờ đối với hàng hóa xuất khẩu (Tổng cục Hải quan 36 giờ), 38 giờ đối với hàng hóa nhập khẩu (Tổng cục Hải quan 41 giờ); Giảm tỷ lệ các lô hàng nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành tại giai đoạn thông quan theo lộ trình của Tổng cục Hải quan; Phấn đấu hàng năm cắt giảm tối thiếu 10% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính.

Để đạt được các mục tiêu trên, Cục Hải quan tỉnh Hà Giang đưa ra 11 nhiệm vụ và giải pháp cụ thể đó là:

Một là, rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật và cơ chế chính sách: Tiếp tục đẩy mạnh việc tổ chức rà soát, tham gia ý kiến, kiến nghị sửa đổi, bổ sung vào các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Luật Hải quan, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016 và các văn bản pháp luật khác theo quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Trên cơ sở các văn bản pháp luật đã ban hành, trong quá trình thực hiện tiếp tục rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp với tình hình thực tế theo hướng đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện.

Hai là, ứng dụng có hiệu quả Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS theo đề án nâng cao hiệu quả trong giai đoạn 2 theo lộ trình của Tổng cục Hải quan: Thực hiện duy trì, giám sát và vận hành Hệ thống VNACCS/VCIS ổn định, an ninh, an toàn 24/7; Đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị vận hành Hệ thống VNACCS/VCIS; Tham gia đầy đủ các lớp đào tạo, tập huấn, hướng dẫn sử dụng Hệ thống VNACCS/VCIS do Tổng cục Hải quan tổ chức; Nâng cao chất lượng trong việc hỗ trợ cho doanh nghiệp trong việc sử dụng Hệ thống VNACCS/VCIS;

Ba là, triển khai thực hiện thanh toán thuế, lệ phí hải quan bằng phương thức điện tử (e-Payment): Phối hợp với các Ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh mở rộng thanh toán điện tử theo Thông tư số 184/2015/TT-BTC ngày 17/11/2015 của Bộ Tài chính quy định thủ tục về kê khai, bảo lãnh tiền thuế, thu nộp tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt, tiền phí, lệ phí, các khoản thu khác, đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh và phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;  Tiếp tục phối hợp thu tại các đơn vị thuộc và trực thuộc với các Ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh; Tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn, chỉ đạo việc triển khai thực hiện; Tổ chức tập huấn cho các CBCC làm nhiệm vụ quản lý thuế về cách thức, trình tự thực hiện thanh toán thuế, lệ phí hải quan bằng phương thức điện tử.

Bốn là, tăng cường công tác quản lý rủi ro, hàng năm giảm tỷ lệ kiểm tra luồng vàng, đỏ; Công khai tiêu chí đánh giá, có hệ thống cảnh báo; công khai lý do doanh nghiệp bị phân luồng: Tiếp tục thu thập, xử lý thông tin; Thực hiện tiêu chí đánh giá tuân thủ, xếp hạng doanh nghiệp; Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra để giảm tỷ lệ chuyển luồng kiểm tra của Chi cục Hải quan đồng thời xử lý nghiêm đối với các trường hợp chuyển luồng tùy tiện; Theo dõi, kiểm tra việc áp dụng tiêu chí dựa trên kết quả phân tích, đánh giá rủi ro đối với các đơn vị trực thuộc Cục theo đúng quy định tại Quyết định số 464/QĐ-BTC ngày 29/06/2015 của Bộ Tài chính về quy định quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan và Quyết định số 282/QĐ-TCHQ ngày 4/2/2015 của Tổng cục Hải quan về công nhận doanh nghiệp ưu tiên; Áp dụng Danh mục hàng hóa rủi ro đối với doanh nghiệp không tuân thủ và doanh nghiệp có rủi ro cao; Thực hiện công khai các tiêu chí đánh giá, công khai lý do doanh nghiệp bị phân luồng theo chỉ đạo của Tổng cục Hải quan; Trả lời lý do luồng vàng hoặc luồng đỏ khi doanh nghiệp đề nghị hoặc khiếu nại trên cơ sở căn cứ vào các quy định của pháp luật và Bộ tiêu chí của Bộ Tài chính.

Năm là, đẩy mạnh công tác kiểm tra sau thông quan: Trên cơ sở áp dụng đẩy đủ kỹ thuật quản lý rủi ro, ứng dụng công nghệ thông tin, đáp ứng cải cách hiện đại hóa hải quan và định hướng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm; hướng dẫn doanh nghiệp tuân thủ pháp luật, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, ngăn chặn kịp thời các trường hợp cố tình gian lận gây thất thu cho ngân sách nhà nước, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị thu ngân sách của ngành Hải quan; Phấn đấu hoàn thành các cuộc kiểm tra tại trụ sở người khai hải quan; Tập trung kiểm tra các mặt hàng nhập khẩu có giá khai báo thấp hơn các mặt hàng trong Danh mục quản lý rủi ro về trị giá, giá các mặt hàng giống hệt, tương tự; Tập trung phân tích thông tin để kiểm tra các doanh nghiệp lớn, có dấu hiệu nghi vấn trong hoạt động gia công, SXXK, doanh nghiệp có rủi ro cao, các mặt hàng có thuế suất cao, mã số dễ nhầm lẫn; Triển khai thực hiện Đề án tăng cường năng lực kiểm tra sau thông quan đến năm 2015 và tầm nhìn đến 2020 của ngành Hải quan đã được Bộ Tài chính phê duyệt theo chỉ đạo của Tổng cục Hải quan, trong đó, tập trung triển khai cơ cấu tổ chức kiểm tra sau thông quan theo quy định mới; Xây dựng quy chế phối hợp, trao đổi thông tin giữa các đơn vị trong ngành Hải quan với các ngành, đơn vị có liên quan với lực lượng kiểm tra sau thông quan.

Sáu là, thực hiện cơ chế kiểm soát về xuất xứ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chế độ quản lý đối với các loại hình hàng hóa, phương tiện vận tải phù hợp cam kết theo lộ trình và chỉ đạo của Tổng cục Hải quan: Rà soát, nghiên cứu, tham gia ý kiến vào các dự thảo nội luật hóa các cam kết thuộc lĩnh vực Hải quan tại các Hiệp định tạo thuận lợi thương mại, Hiệp định thương mại tự do và các Hiệp định có liên quan Việt Nam đã tham gia, ký kết; Nghiên cứu, tham gia ý kiến vào các dự thảo Thông tư hướng dẫn xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong khuôn khổ các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết; Thông tư hướng dẫn Cơ chế kiểm soát bảo hộ quyền sỡ hữu trí tuệ, cơ sở dữ liệu quản lý C/O, cơ sở dữ liệu quản lý sở hữu trí tuệ... và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả khi các quy định này chính thức được ban hành.

Bảy là, tăng cường công tác kiểm soát thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan: Triển khai thực hiện Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra chuyên ngành: Chủ trì, phối hợp với các ngành có liên quan trên địa bàn tỉnh đề xuất, tham mưu, kiến nghị với Tổng cục Hải quan, các Bộ, Ngành sửa đổi hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về kiểm tra chuyên ngành theo Kế hoạch số 104/KH-UBND ngày 26/4/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang về triển khai thực hiện Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 17/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Căn cứ tình hình thực tế tham mưu với Tổng cục Hải quan thành lập địa điểm kiểm tra chuyên ngành tập trung tại cửa khẩu khi đủ điều kiện; Triển khai thực hiện cơ chế một cửa quốc gia, cơ chế một cửa ASEAN theo lộ trình của Tổng cục Hải quan: Triển khai sử dụng các chứng từ điện tử (giấy phép điện tử, giấy chứng nhận điện tử và các giấy tờ điện tử tương đương) được cấp thông qua Cơ chế một cửa quốc gia khi thực hiện các thủ tục hành chính khác có liên quan theo lộ trình của Tổng cục Hải quan; Triển khai thực hiện các thủ tục hành chính thuộc danh mục của các Bộ: Bộ Công Thương, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế theo lộ trình của Tổng cục Hải quan.

Tám là, rà soát, đánh giá, nâng cao hiệu quả, triển khai mở rộng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001: 2008 vào hoạt động của toàn Cục: Đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác ISO; Kiểm tra, đánh giá, đề xuất việc xây dựng, áp dụng, duy trì, mở rộng Hệ thống quản lý chất lượng trong các đơn vị thuộc và trực thuộc; Tham gia ý kiến xây dựng mô hình ISO điện tử trong áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 vào hoạt động của cơ quan Hải quan các cấp.

Chín là, công tác tuyên truyền, công khai minh bạch các hoạt động nghiệp vụ liên quan đến giải quyết thủ tục hải quan: Tiếp tục thực hiện nghiêm túc Tuyên ngôn phục vụ khách hàng của ngành hải quan; Nâng cao chất lượng của hội nghị đối thoại với doanh nghiệp theo định kỳ để lắng nghe những khó khăn, vướng mắc kịp thời tháo gỡ cho doanh nghiệp; Tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ cung cấp thông tin cho người khai hải quan, người nộp thuế giải quyết công việc theo cơ chế một cửa ; Niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan hải quan, nơi làm thủ tục hải quan các quy định về thủ tục hành chính, quy trình thủ tục hải quan; Đăng tải Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép và thuộc diện quản lý chuyên ngành ; Tăng cường công tác tuyên truyền, công khai, minh bạch các thủ tục hành chính, thời gian giải quyết thủ tục hành chính, các cơ chế chính sách hàng hóa mới được ban hành trên trang thông tin điện tử (Website) của Cục và trên hệ thống báo, đài phát thanh truyền hình của tỉnh.

Mười là, hiện đại hóa công sở và đầu tư trang thiết bị kỹ thuật: Đẩy nhanh tiến độ thực hiện xây dựng, phấn đấu đưa công trình trụ sở Cục vào sử dụng đúng kế hoạch; triển khai xây dựng trụ sở Chi cục Hải quan Tuyên Quang; thực hiện mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác chuyên môn nghiệp vụ đảm bảo cho công tác hiện đại hóa Hải quan ; Phấn đấu đến năm 2020, cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật của toàn Cục Hải quan được đầu tư đồng bộ, hiện đại theo đúng tiêu chuẩn quy định và được trang bị đầy đủ các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho hoạt động của bộ máy. Ưu tiên triển khai tại các địa bàn có lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiện và hành khách xuất nhập cảnh lớn.

Mười một là, công tác xây dựng lực lượng kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết, trong sạch vững mạnh toàn diện: Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ công chức để có trình độ chuyên sâu, chuyên nghiệp, bản lĩnh chính trị vững vàng, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ giao; rà soát Danh mục vị trí việc làm và Bản mô tả công việc chung của từng vị trí công tác tại các đơn vị trực thuộc, bảo đảm phù hợp với quy định tại Quyết định số 65/2015/QĐ-TTg ngày 17/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ; Đẩy mạnh việc xây dựng và triển khai các khung năng lực chuyên môn nghiệp vụ, trước mặt tập trung triển khai 02 khung năng lực chuyên môn nghiệp vụ thuộc lĩnh vực giám sát quản lý và Thuế xuất nhập khẩu đã ban hành. Đồng thời tiếp tục xây dựng khung năng lực chuyên môn theo vị trí việc làm của các lĩnh vực còn lại tạo cơ sở cho việc đánh giá, bố trí,  sắp xếp, điều động, luân chuyển cán bộ theo năng lực đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan; Tăng cường thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan; thực hiện nghiêm Luật phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tăng cường thanh tra, kiểm tra nội bộ; nâng cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu của người đứng đầu đơn vị gắn với chế độ kiểm tra, giám sát để đấu tranh phòng ngừa sai phạm xẩy ra theo Chỉ thị của UBND tỉnh và chỉ đạo của TCHQ ; Thực hiện tốt các phong trào thi đua, khen thưởng kịp thời đúng quy định của Luật thi đua khen thưởng gắn với việc thực hiện kỷ cương, liêm chính, thường xuyên giáo dục truyền thống, đạo đức nghề nghiệp cho CBCC trong toàn Cục.

Kế hoạch này được triển khai đến tất cả các đơn vị thuộc và trực thuộc Cục để tổ chức thực hiện, định kỳ hàng quý, 6 tháng, năm Cục có báo cáo kết quả cụ thể quá trình triển khai thực hiện với Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang và Tổng cục Hải quan./.                                          

Tags:

Tin khác: