Tin hoạt động Sự kiện

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ

Công chức Chi cục HQCK Xín Mần giám sát hàng hóa trao đổi của cư dân biên giới

 

Ngày 19 tháng 11 năm 2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 124/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05 tháng 01 năm 2016.

Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP

Trong thời gian qua, việc triển khai thực hiện Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014) đã thu được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Nghị định số 185/2013/NĐ-CP cơ bản giải quyết được những bất cập mẫu thuẫn, chồng chéo với các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực liên quan; Các hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức xử phạt quy định rõ ràng, cụ thể, phù hợp với các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản quy định chi tiết thi hành tạo thuận lợi cho việc áp dụng xử phạt trong thực tiễn; thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và thẩm xử phạt quy định đầy đủ, cụ thể, rõ ràng tạo cơ sở pháp lý cho các lực lượng chức năng thực thi công vụ; Nghị định số 185/2013/NĐ-CP quy định cụ thể nguyên tắc áp dụng các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả trên cơ sở phù hợp với quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; căn cứ định giá để xác định thẩm quyền, mức phạt rõ ràng, cụ thể đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan chức năng trong quá trình áp dụng xử phạt.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, thuận lợi và các kết quả đạt được nêu trên, việc triển khai thi hành Nghị định số 185/2014/NĐ-CP cũng bộc lộ một số bất cập hạn chế cần kịp thời sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước. Kết quả tổng kết thực tiễn thi hành Nghị định số 185/2013/NĐ-CP của các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cho thấy một số hạn chế, bất cập sau của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP: Chính sách xử lý đối với hàng giả, khái niệm hàng giả quy định tại điểm b khoản 8 Điều 3 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP và còn nhiều bất cập, chưa rõ ràng, chặt chẽ, tạo kẽ hở cho các cá nhân tổ chức sản xuất, kinh doanh lợi dụng để sản xuất, buôn bán kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng; Một số hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 8… còn thiếu tính khả thi, mức phạt cao chưa phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và khó áp dụng trong thực tiễn; Luật Đầu tư năm 2014. Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực từ ngày 01/7/2015 có nhiều quy định mới liên quan đến vấn đề đăng ký kinh doanh, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, hộ kinh doanh... dẫn tới một số quy định của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP không còn phù hợp, cần kịp thời sửa đổi, bổ sung để bảo đảm thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật mới; Một số quy định về hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả chưa bảo đảm phù hợp, thống nhất, đồng bộ với quy định của Bộ Luật hình sự, Luật xử lý vi phạm hành chính và một số nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước như Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 quy định chi tiết thi hành Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh…

Để xử lý những vướng mắc từ thực tiễn áp dụng, khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, ngày 19/11/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 124/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Một trong những điểm mới đã đáp ứng yêu cầu xử lý những vướng mắc từ thực tiễn áp dụng các quy định trong việc xác định hàng giả không có giá trị sử dụng, công dụng, bảo đảm tính thống nhất và tính khả thi của hệ thống pháp luật, Nghị định số 124/2015/NĐ-CP sửa đổi khái niệm hàng giả quy định tại điểm b khoản 8 Điều 3 và bổ sung khái niệm hàng hóa không có nguồn gốc, xuất xứ tại khoản 14 Điều 3 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP để bảo đảm phù hợp với thực tiễn, nâng cao hiệu quả đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng được quy định như sau:

Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hoá chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuân kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hoá;”

“Hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ” là hàng hóa lưu thông trên thị trường không có căn cứ xác định được nguồn gốc nơi sản xuất hoặc xuất xứ của hàng hóa.”

Mặt khác, Nghị định số 124/2015/NĐ-CP được ban hành bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

-  Bảo đảm sự phù hợp, đồng bộ và thống nhất với Luật Xử lý vi phạm hành chính và các quy định pháp luật khác có liên quan.

- Xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP trên cơ sở kế thừa những quy định còn phù hợp, khắc phục những nội dung chồng chéo, mâu thuẫn và những vấn đề vướng mắc về mặt pháp lý trong thực tiễn áp dụng các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính hiện hành.

 - Thể hiện đường lối, chính sách xử lý nghiêm minh, triệt để đối với các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt thương mại; bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của người kinh doanh và người tiêu dùng; góp phần đảm bảo ổn định thị trường, phát triển kinh tế xã hội và thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

- Bảo đảm tính khả thi, thuận lợi cho các ngành, các cấp, các cơ quan và lực lượng thực thi phòng chống vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại; nâng cao ý thức pháp luật của doanh nghiệp và người tiêu dùng.

Kết quả thực hiện của Cục Hải quan tỉnh Hà Giang:

Ngay sau khi Nghị định 185/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, Cục Hải quan tỉnh Hà Giang đã phổ biến, quán triệt nội dung của Nghị định liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước về hải quan đến các Chi cục hải quan cơ sở, Đội Kiểm soát hải quan các nội dung quy định tại Nghị định như:

- Tăng cường đấu tranh, phát hiện, xử lý đối với các hành vi vi phạm các quy định chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh trên địa bàn hoạt động hải quan; Hành vi vi phạm về hội chợ, triển lãm thương mại: Bán, tặng, cung ứng tại hội chợ, triển lãm thương mại các hàng hóa nhập khẩu mà không đăng ký với hải quan…

- Những người có thẩm quyền của cơ quan Hải quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, các dịch vụ liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới quy định tại Nghị định này theo thẩm quyền quy định tại Điều 42 Luật Xử lý vi phạm hành chính và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Từ 01/01/2014 đến 30/11/2015, Cục Hải quan tỉnh Hà Giang đã phát hiện, xử lý 18 vụ vi phạm pháp luật về hải quan (vi phạm về thủ tục), xử phạt vi phạm hành chính nộp ngân sách nhà nước 74,3 triệu đồng. Không phát hiện, xử lý vụ vi phạm nào liên quan đến hàng hóa nhập lậu theo quy định tại khoản 7, Điều 3 của Nghị định 185/2013/NĐ-CP.

Những điểm mới về thẩm quyền của Hải quan trong Nghị định số 124/2015/NĐ-CP

- Về phân định thẩm quyền của Hải quan quy định tại khoản 2 Điều 103:

“2. Những người có thẩm quyền của cơ quan Hải quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại Mục 9 Chương II và các hành vi vi phạm hành chính có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển khẩu hàng hóa quy định tại các Điều 11, 13, 15, 17, 18, 21, 25, 26, 27, 29, 33, 41, 42, 49, 50, 53, 90 và 91 của Nghị định này theo thẩm quyền quy định tại Điều 103b Nghị định này và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao”.

- Về thẩm quyền xử phạt của Hải quan quy định tại Điều 103b cụ thể như sau:

“1. Công chức Hải quan đang thi hành công vụ có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 500.000 đồng.

2. Đội trưởng thuộc Chi cục Hải quan, Đội trưởng thuộc Chi cục kiểm tra sau thông quan có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 5.000.000 đồng.

3. Chi cục trưởng Chi cục Hải quan, Chi cục trưởng Chi cục kiểm tra sau thông quan, Đội trưởng Đội kiểm soát thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Đội trưởng Đội kiểm soát chống buôn lậu, Đội trưởng Đội thủ tục Hải quan, Hải đội trưởng Hải đội kiểm soát trên biển và Đội trưởng Đội kiểm soát bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu Tổng cục Hải quan có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 25.000.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại Điểm b Khoản này;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm d, đ, g, i và k Khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

4. Cục trưởng Cục điều tra chống buôn lậu, Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan thuộc Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại Điểm b Khoản này;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm d, đ, g, i và k Khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

5. Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến mức tối đa quy định tại Nghị định này;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm d, đ, g, i và k Khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính”./.

Tags:

Tin khác: