Tin hoạt động Sự kiện

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT HẢI QUAN NĂM 2014

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT HẢI QUAN NĂM 2014

 

Ngày 23/6/2014, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Luật hải quan số 54/2014/QH13 (sau đây gọi là Luật hải quan năm 2014). Ngày 30/6/2014, Chủ tịch nước ký Lệnh số 12/2014/L-CTN công bố Luật hải quan. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015.

Nội dung bài viết này xin giới thiệu những nội dung cơ bản về Thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan (quy định tại Chương III, Luật hải quan năm 2014). Chương này được xây dựng trên cơ sở những nội dung quy định tại Chương III Luật hải quan hiện hành còn phù hợp, bổ sung một số nội dung mới và bố cục lại trên cơ sở chuẩn hoá chế độ quản lý hải quan đối với hàng hoá. Nội dung sửa đổi, bổ sung cơ bản như sau:

1. Quy định chung

Mục này có 26 điều gồm các nội dung quy định chung về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan. Trong đó tập trung sửa đổi, bổ sung các nội dung sau:

  1. Áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý hải quan (Điều 16, Điều 17)

Luật hải quan hiện hành chưa đề cập đến thuật ngữ “quản lý rủi ro”, tuy nhiên, tại các Điều 28, 29, 30 quy định cụ thể các trường hợp kiểm tra hải quan, miễn kiểm tra hải quan, do đó việc lựa chọn đối tượng kiểm tra trở nên cứng nhắc, không phù hợp với nguyên tắc quản lý rủi ro.

Để đảm bảo cơ sở pháp lý áp dụng quản lý rủi ro một cách đầy đủ, có hiệu quả, phù hợp với các Chuẩn mực của Công ước Kyoto sửa đổi, tại Điều 16 và Điều 17 Luật hải quan năm 2014 đã quy định cụ thể về quản lý rủi ro như sau:

- Kiểm tra, giám sát hải quan được thực hiện trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro nhằm đảm bảo hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước về hải quan và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

- Phạm vi áp dụng quản lý rủi ro: quyết định việc kiểm tra, giám sát, hỗ trợ các hoạt động phòng, chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

- Quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan bao gồm việc thu thập, xử lý thông tin hải quan; xây dựng tiêu chí và tổ chức đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan, phân loại mức độ rủi ro; tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý hải quan phù hợp.

- Cơ quan Hải quan quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để tự động tích hợp, xử lý dữ liệu phục vụ việc áp dụng quản lý rủi ro trong các hoạt động nghiệp vụ hải quan.

b) Đại lý làm thủ tục hải quan (Điều 20)

Việc thay đổi phương thức khai hải quan chủ yếu theo phương thức điện tử, đặt ra yêu cầu có cơ sở pháp lý tạo điều kiện hỗ trợ đại lí phát triển theo hướng chuyên nghiệp. Do đó, tại Điều 20 Luật hải quan năm 2014 đã sửa đổi, bổ sung quy định về đại lý làm thủ tục hải quan, trong đó quy định rõ: các điều kiện của đại lý làm thủ tục hải quan và nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan; quyền và nghĩa vụ của đại lý làm thủ tục hải quan và nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan.

c) Địa điểm làm thủ tục hải quan (Điều 22)

Điều 17 Luật hải quan hiện hành chỉ quy định địa điểm làm thủ tục hải quan là trụ sở Chi cục Hải quan cửa khẩu, trụ sở Chi cục Hải quan ngoài cửa khẩu. Luật cũng chưa quy định trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc bố trí địa điểm làm thủ tục hải quan, khu vực xếp hàng hoá, khu vực kiểm tra thực tế hàng hóa khi quy hoạch, xây dựng cảng, cửa khẩu… Do đó, nhiều cảng, cửa khẩu, khu phi thuế quan khi được thành lập không có mặt bằng để bố trí địa điểm làm thủ tục hải quan, hàng hoá được xếp đặt không khoa học, không phân biệt khu vực chứa hàng hoá xuất nhập khẩu với khu vực chứa hàng hoá nội địa nên khó khăn cho công tác giám sát hải quan.

Để phù hợp với việc triển khai thủ tục hải quan điện tử, theo đó tiếp nhận và xử lý tờ khai có thể tiến hành theo cơ chế một cửa quốc gia, theo mô hình xử lý tập trung tại cấp Cục, Tổng cục, không nhất thiết phải thực hiện ở Chi cục, tại Điều 22 Luật hải quan năm 2014 sửa đổi quy định về địa điểm làm thủ tục hải quan theo hướng quy định rõ địa điểm theo từng bước, từng khâu của thủ tục hải quan: địa điểm tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ hải quan; địa điểm kiểm tra thực tế hàng hóa.

Đồng thời, Luật cũng quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc bố trí địa điểm làm thủ tục hải quan và nơi lưu giữ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đáp ứng yêu cầu kiểm tra, giám sát hải quan.

d) Thời hạn cơ quan hải quan làm thủ tục hải quan (Điều 23)

Để bảo đảm tính minh bạch đồng thời giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, tại Điều 23 của Luật hải quan năm 2014 đã quy định rõ công chức hải quan kiểm tra hồ sơ chậm nhất 2 giờ làm việc kể từ thời điểm cơ quan hải quan tiếp nhận đầy đủ hồ sơ hải quan; thời gian kiểm tra thực tế hàng hoá là 8 giờ làm việc kể từ thời điểm người khai hải quan xuất trình đầy đủ hàng hoá cho cơ quan hải quan (theo Luật hải quan hiện hành là 02 ngày làm việc); trường hợp cần thiết phải gia hạn thì thời gian gia hạn tối đa không quá 2 ngày. Khoản 4 Điều 23 Luật hải quan năm 2014 cũng quy định rõ: Cơ quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa vào ngày lễ, ngày nghỉ và ngoài giờ làm việc để bảo đảm kịp thời việc xếp dỡ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, việc xuất cảnh, nhập cảnh của hành khách, phương tiện vận tải hoặc trên cơ sở đề nghị của người khai hải quan và phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn hoạt động hải quan.

đ) Hồ sơ hải quan (Điều 24), thời hạn nộp hồ sơ hải quan (Điều 25)

- Hồ sơ hải quan

Theo quy định tại Điều 22 Luật hải quan hiện hành, hồ sơ hải quan gồm 5 loại: tờ khai; hóa đơn thương mại; hợp đồng mua bán; giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu (nếu có) và các chứng từ khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế cơ quan hải quan chỉ cần đầy đủ các chứng từ này trong một số trường hợp cần thiết; ngoài ra Luật chưa quy định cụ thể thời hạn công chức hải quan kiểm tra hồ sơ hải quan nên dễ dẫn đến tùy tiện, gây khó khăn cho người khai hải quan.

Để khắc phục bất cập nêu trên, tạo điều kiện để đơn giản hóa các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan, Luật hải quan năm 2014 quy định chung thống nhất về hồ sơ hải quan theo đó: chỉ có tờ khai hải quan là chứng từ bắt buộc phải có khi làm thủ tục hải quan; đối với các chứng từ khác thuộc hồ sơ hải quan, Luật giao Bộ Tài chính quy định cụ thể trường phải nộp hoặc xuất trình phù hợp với quy định của pháp luật liên quan (Điều 24).

Đối với trường hợp áp dụng cơ chế một cửa quốc gia, khoản 3 Điều 24 Luật hải quan năm 2014 quy định cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành gửi giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, văn bản thông báo kết quả kiểm tra, miễn kiểm tra chuyên ngành dưới dạng điện tử thông qua hệ thống thông tin tích hợp (người khai hải quan không phải nộp chứng từ này).

- Thời hạn nộp hồ sơ hải quan

Luật hải quan năm 2014 không quy định người khai hải quan phải nộp các chứng từ đi kèm tờ khai ngay khi đăng ký tờ khai hải quan điện tử mà chỉ quy định việc nộp các chứng từ này khi cơ quan hải quan tiến hành kiểm tra hồ sơ hải quan. Quy định như vậy đã tạo điều kiện cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa hồ sơ đối với trường hợp không thuộc diện kiểm tra thực tế hàng hóa, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động xuất nhập khẩu.

e) Phân loại hàng hóa (Điều 26)

Việc phân loại hàng hóa được quy định tại Điều 72 Luật hải quan hiện hành thuộc Chương “tổ chức thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu”. Luật hiện hành chưa quy định khái niệm phân loại hàng hóa, nguyên tắc khi phân loại.

Luật hải quan năm 2014 đã bổ sung khái niệm phân loại hàng hoá tại Điều 4 và sửa đổi quy định về phân loại hàng hóa tại Điều 26 quy định cụ thể về phân loại hàng hóa và phạm vi áp dụng phân loại hàng hóa, theo đó:

- Phân loại hàng hoá để xác định mã số hàng hóa làm cơ sở tính thuế và thực hiện chính sách quản lý hàng hóa.

- Khi phân loại hàng hóa phải căn cứ hồ sơ hải quan, tài liệu kỹ thuật và các thông tin khác có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để xác định tên gọi, mã số của hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.

Để bảo đảm tính thống nhất giữa Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam với các danh mục quản lý, điều hành hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, khoản 3 khoản 4 Điều 26 đã quy định rõ:

- Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam thống nhất trong toàn quốc. 

- Trên cơ sở Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Danh mục hàng hóa thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành do Chính phủ quy định, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành mã số hàng hóa thống nhất với mã số thuộc Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.   

Quy định nêu trên sẽ khắc phục được tình trạng danh mục hàng hóa thuộc diện cấm xuất nhập khẩu hoặc quản lý chuyên ngành do các Bộ, Ngành ban hành không kèm theo mã số hàng hóa, chậm công bố mã số hàng hóa hoặc có mã số hàng hóa không thống nhất với mã số hàng hóa tại Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam gây khó khăn cho cơ quan hải quan và doanh nghiệp khi thực hiện; bổ sung quy định xác định rõ trách nhiệm của Bộ Tài chính ban hành Danh mục mã số hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thống nhất trong toàn quốc phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

g) Xác định xuất xứ hàng hóa (Điều 27)

 Để nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, tạo cơ sở pháp lý cho việc tự chứng nhận xuất xứ của người xuất khẩu, người sản xuất; điều tra, xác minh xuất xứ hàng hóa tại nước xuất khẩu, nước sản xuất; việc sử dụng kết quả xác minh, điều tra để áp dụng ưu đãi thuế quan, chính sách quản lý đối với hàng hóa nhập khẩu đồng thời nâng cao năng lực của cơ quan hải quan trong việc xác định xuất xứ hàng hóa, Luật hải quan năm 2014 đã bổ sung 01 điều (Điều 27) quy định:

- Đối với hàng hóa xuất khẩu: Trường hợp có nghi ngờ về xuất xứ, cơ quan hải quan yêu cầu người khai hải quan cung cấp chứng từ, tài liệu liên quan đến xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, tiến hành kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa tại cơ sở sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Trong khi chờ kết quả kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa, hàng hóa xuất khẩu được thông quan theo quy định.

- Đối với hàng hóa nhập khẩu: Cơ quan hải quan kiểm tra, xác định xuất xứ trên cơ sở nội dung khai của người khai hải quan, chứng từ chứng nhận xuất xứ, chứng từ thuộc hồ sơ hải quan và kết quả kiểm tra thực tế hàng hoá. Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhập khẩu do cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu phát hành hoặc do người sản xuất, người xuất khẩu hoặc người nhập khẩu tự chứng nhận theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

+ Trường hợp có nghi ngờ về xuất xứ hàng hóa nhập khẩu, cơ quan hải quan tiến hành kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa tại nước sản xuất hàng hóa theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Kết quả kiểm tra, xác minh xuất xứ có giá trị pháp lý để xác định xuất xứ hàng hóa nhập khẩu.

+ Trong khi chờ kết quả kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa, hàng hóa nhập khẩu được thông quan theo quy định nhưng không được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt. Số thuế chính thức phải nộp căn cứ vào kết quả kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa.

h) Xác định mã số, xuất xứ, trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trước khi làm thủ tục hải quan (Điều 28)

Để giúp doanh nghiệp chủ động xác định trước về chính sách xuất nhập khẩu, nghĩa vụ thuế đối với hàng hóa dự kiến xuất khẩu, nhập khẩu, tính toán trước hiệu quả kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ, giảm các trường hợp tranh chấp giữa doanh nghiệp và cơ quan hải quan về việc áp mã, xác định giá tính thuế, xuất xứ hàng hóa khi làm các thủ tục thong quan phù hợp với quy định của Công ước Kyoto cũng như các cam kết quốc tế trong khuôn khổ WTO, ASEAN, Điều 28 Luật hải quan đã bổ sung cơ chế cơ quan hải quan thực hiện xác định trước cho doanh nghiệp về mã số, xuất xứ, trị giá hải quan. Cụ thể:

- Quy định về khái niệm xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan đối với hàng hoá (điều 4);

- Quy định các nội dung về quyền, nghĩa vụ của người khai hải quan liên quan đến xác định trước trong lĩnh vực hải quan vào (điều 18);

 - Quy định về thủ tục xác định trước (Điều 28). Theo đó, trường hợp người khai hải quan đề nghị cơ quan hải quan xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan đối với hàng hóa dự kiến xuất khẩu, nhập khẩu, người khai hải quan cung cấp thông tin, chứng từ liên quan, mẫu hàng hóa dự kiến xuất khẩu, nhập khẩu hoặc tài liệu kỹ thuật liên quan cho cơ quan hải quan để cơ quan hải quan xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan. Kết quả xác định trước được cơ quan hải quan thông báo bằng văn bản, có giá trị pháp lý để cơ quan hải quan làm thủ tục hải quan khi hàng hóa thực xuất khẩu, nhập khẩu phù hợp với thông tin, chứng từ liên quan, mẫu hàng hóa mà người khai hải quan đã cung cấp.

Luật hải quan năm 2014 cũng quy định việc giải quyết đối với trường hợp người khai hải quan không đồng ý với kết quả xác định trước.

i) Khai hải quan (Điều 29)

- Phương thức khai

Luật hải quan hiện hành cơ bản được xây dựng trên cơ sở thực hiện thủ tục hải quan bằng phương thức truyền thống, người khai hải quan trực tiếp nộp hồ sơ giấy và cơ quan hải quan trực tiếp kiểm tra bằng mắt thường.

Với việc triển khai ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong thủ tục hải quan và quản lý hải quan, tại khoản 2 Điều 29 Luật hải quan năm 2014 đã quy định  thay đổi căn bản phương thức thực hiện thủ tục hải quan từ phương thức truyền thống, bán điện tử sang phương thức điện tử, theo đó: việc khai hải quan được thực hiện theo phương thức điện tử, việc khai trên tờ khai giấy chỉ áp dụng đối với một số trường hợp cụ thể do Chính phủ quy định.

- Về khai bổ sung

Điều 22 Luật hải quan hiện hành quy định người khai hải quan được bổ sung, sửa chữa tờ khai trong thông quan nhưng chưa có quy định về khai bổ sung sau thông quan.

Trên cơ sở tham khảo quy định tại Công ước Kyoto và Luật Hải quan một số nước như Cộng đồng Châu Âu, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản, Điều 29  Luật hải quan năm 2014 quy định về khai bổ sung để bảo đảm bao quát các trường hợp phát sinh trong thực tế. Cụ thể:

- Đối với hàng hóa đang làm thủ tục hải quan: trước thời điểm cơ quan hải quan thông báo việc kiểm tra trực tiếp hồ sơ hải quan;

- Đối với hàng hóa đã được thông quan: trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày thông quan và trước thời điểm cơ quan hải quan quyết định kiểm tra sau thông quan, thanh tra, trừ trường hợp nội dung khai bổ sung liên quan đến giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu; kiểm tra chuyên ngành về chất lượng hàng hóa, y tế, văn hóa, kiểm dịch động vật, thực vật, an toàn thực phẩm;

- Quá thời hạn nêu trên, người khai hải quan được thực hiện khai bổ sung nhưng bị xử lý theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Đồng thời, tại khoản 3 Điều 101 Luật hải quan năm 2014 quy định sửa đổi quy định về khai bổ sung tại khoản 2 Điều 34 Luật quản lý thuế theo hướng việc khai bổ sung hồ sơ khai thuế thực hiện theo quy định của Luật hải quan.

k) Đăng ký tờ khai hải quan (Điều 30)

Điều 28 Luật hải quan hiện hành chỉ quy định về việc kiểm tra hồ sơ trước khi đăng ký tờ khai hải quan mà chưa quy định rõ địa điểm, thời điểm đăng ký tờ khai hải quan. 

Để bảo đảm tính minh bạch, tại Điều 30 Luật hải quan năm 2014 đã quy định:

- Địa điểm đăng ký tờ khai hải quan: Địa điểm làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nơi hàng đến; địa điểm làm thủ tục hải quan nơi hàng hoá được chuyển cửa khẩu đến; địa điểm làm thủ tục hải quan nơi lưu giữ hàng hóa.

- Phương thức đăng ký tờ khai hải quan: Tờ khai điện tử được đăng ký theo phương thức điện tử, tờ khai giấy được đăng ký trực tiếp tại cơ quan hải quan

- Tờ khai hải quan được đăng ký sau khi cơ quan hải quan chấp nhận việc khai của người khai hải quan. Thời điểm đăng ký được ghi trên tờ khai hải quan.

Trong trường hợp không chấp nhận đăng ký tờ khai hải quan cơ quan hải quan thông báo lý do bằng văn bản giấy hoặc qua phương thức điện tử cho người khai hải quan biết.

l) Kiểm tra hải quan trong quá trình làm thủ tục hải quan (Điều 31 đến Điều 34)

- Các Điều 28, 30 Luật hải quan hiện hành quy định cụ thể các trường hợp kiểm tra, được miễn kiểm tra đã làm cho việc xác định đối tượng kiểm tra thực hiện theo phương thức cứng nhắc, hạn chế việc áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro, dễ dẫn đến người khai hải quan lợi dụng nhằm buôn lậu, gian lận thương mại, trốn tránh sự kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan;

Để đảm bảo quản lý nhà nước về hải quan đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, phù hợp với thủ tục hải quan điện tử; tại các điều từ Điều 31 đến Điều 34 Luật hải quan năm 2014 đã quy định về kiểm tra hải quan như sau:

- Căn cứ kết quả phân tích, đánh giá rủi ro và các thông tin có liên quan đến hàng hoá, thủ trưởng cơ quan hải quan nơi xử lý hồ sơ hải quan quyết định kiểm tra hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa (Điều 31);

- Quy định nội dung kiểm tra hồ sơ, việc thực hiện kiểm tra thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan hoặc trực tiếp bởi công chức hải quan (Điều 32);

- Về kiểm tra thực tế hàng hóa:

+ Quy định các trường hợp được miễn kiểm tra thực tế, các trường hợp kiểm tra thực tế hàng hóa phù hợp với nguyên tắc quản lý rủi ro (Điều 33).

+ Bổ sung quy định việc kiểm tra thực tế hàng hóa khi vắng mặt người khai hải quan thông qua các hình thức: kiểm tra không xâm nhập qua máy soi, kiểm tra thông qua thiết bị kỹ thuật, biện pháp nghiệp vụ khác để tạo cơ sở pháp lý giúp cơ quan hải quan chủ động phát hiện vi phạm đưa ra biện pháp xử lý kịp thời (Điều 34).

m) Trách nhiệm kiểm tra hàng hóa, phương tiện vận tải trong địa bàn hoạt động hải quan (Điều 35)

Để bảo đảm yêu cầu giám sát trong khi chờ kết quả kiểm tra chuyên ngành; đồng thời phân định rõ trách nhiệm của cơ quan hải quan và các cơ quan kiểm tra chuyên ngành trong việc giám sát hàng hóa trong quá trình kiểm tra, thông báo kết quả kiểm tra, làm thủ tục thông quan hàng hóa, Điều 35 Luật hải quan năm 2014 quy định rõ:

- Trường hợp phải kiểm tra chuyên ngành về chất lượng, y tế, văn hoá, kiểm dịch động vật, thực vật, an toàn thực phẩm thì cơ quan hải quan căn cứ kết quả kiểm tra của cơ quan kiểm tra chuyên ngành để quyết định việc thông quan.

- Hàng hóa thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành phải được lưu giữ tại cửa khẩu cho đến khi được thông quan. Trường hợp đưa về địa điểm khác để tiến hành việc kiểm tra chuyên ngành hoặc chủ hàng hóa có yêu cầu đưa hàng hóa về bảo quản, thì địa điểm lưu giữ phải đáp ứng điều kiện về giám sát hải quan và hàng hóa đó chịu sự giám sát của cơ quan hải quan cho đến khi được thông quan.

- Chủ hàng hóa chịu trách nhiệm bảo quản, lưu giữ hàng hóa tại địa điểm kiểm tra chuyên ngành hoặc địa điểm lưu giữ của chủ hàng hóa cho đến khi cơ quan hải quan quyết định thông quan.

- Cơ quan kiểm tra chuyên ngành có trách nhiệm thông báo kết quả kiểm tra cho cơ quan hải quan trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày có kết quả kiểm tra.

n) Giải phóng hàng hóa, Thông quan (Điều 36, 37)

Luật hải quan hiện hành chưa quy định về giải phóng hàng. Xác định giải phóng hàng hóa là một bước trong chuỗi thủ tục hải quan (Điều 21), Luật hải quan năm 2014 đã bổ sung 01 điều (Điều 36) quy định về giải phóng hàng hóa, đồng thời sửa đổi, bổ sung khái niệm thông quan (Điều 4) và quy định về thông quan tại Điều 37. Cụ thể như sau:

- Giải phóng hàng hóa là việc cơ quan hải quan cho phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá khi đã đủ các điều kiện: Hàng hóa đủ điều kiện để được xuất khẩu, nhập khẩu nhưng chưa xác định số thuế chính thức phải nộp; người khai hải quan đã nộp thuế hoặc được tổ chức tín dụng bảo lãnh số thuế trên cơ sở tự kê khai, tính thuế của người khai hải quan.

- Thông quan: áp dụng đối với hàng hoá đã hoàn thành thủ tục hải quan.

Điều 37 Luật hải quan năm 2014 cũng quy định cụ thể việc thông quan đối với một số trường hợp đặc thù như như chưa nộp thuế, bị xử phạt vi phạm hành chính…Luật cũng quy định:

- Đối với hàng hóa phải kiểm tra, phân tích, giám định để xác định có được phép xuất khẩu, nhập khẩu hay không, cơ quan hải quan chỉ thực hiện thông quan hàng hóa sau khi xác định hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở kết luận kiểm tra, phân tích, giám định theo quy định của pháp luật hoặc thông báo miễn kiểm tra theo quy định của pháp luật.

o) Giám sát hải quan (từ Điều 38 - Điều 41)

Để khắc phục những bất cập của Luật hải quan hiện hành, Luật hải quan năm 2014 sửa đổi khái niệm về giám sát hải quan tại Điều 4; và quy định cụ thể hơn về giám sát hải quan với nội dung sửa đổi, bổ sung về: phương thức giám sát, thời gian giám sát, trách nhiệm của cơ quan hải quan trong hoạt động giám sát, trách nhiệm của người khai hải quan, người chỉ huy hoặc người điều khiển phương tiện vận tải, doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng trong hoạt động giám sát hải quan.

2. Chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp

Luật hải quan hiện hành (tại Điều 30) quy định: đối với doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật về hải quan được miễn kiểm tra thực tế hàng hóa; chưa quy định điều kiện xác định doanh nghiệp này và các chế độ ưu tiên khác đối với các doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện.

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có quá trình tuân thủ pháp luật tốt, doanh nghiệp có kim ngạch xuất nhập khẩu lớn, chế độ quản trị tốt được áp dụng thủ tục hải quan thuận lợi; Luật hải quan năm 2014 đã bổ sung 01 mục gồm 04 điều (42, 43, 44, 45) quy định về chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp. Theo đó, các chế độ ưu tiên quy định tại Điều 43 gồm:

- Miễn kiểm tra chứng từ liên quan thuộc hồ sơ hải quan, miễn kiểm tra thực tế hàng hóa trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan, trừ trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc kiểm tra ngẫu nhiên để đánh giá sự tuân thủ pháp luật.

- Được làm thủ tục hải quan bằng tờ khai hải quan chưa hoàn chỉnh hoặc chứng từ thay thế tờ khai hải quan.

- Được ưu tiên khi thực hiện thủ tục về thuế đối với hàng hóa theo quy định của pháp luật về thuế.

Luật hải quan năm 2014 cũng quy định cụ thể điều kiện áp dụng chế độ ưu tiên (Điều 42), việc áp dụng chế độ ưu tiên đối với các doanh nghiệp thuộc các quốc gia có ký thỏa thuận với Việt Nam công nhận lẫn nhau về doanh nghiệp ưu tiên; quyền, trách nhiệm của cơ quan hải quan (Điều 44), của doanh nghiệp được áp dụng chế độ ưu tiên (Điều 45).

3. Về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với các loại hình hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (mục 3 đến mục 7)

Luật hải quan hiện hành quy định nguyên tắc quản lý hải quan đối với 13 loại hình hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, chuyển khẩu, quá cảnh (từ Điều 33 đến Điều 49), trong đó chỉ quy định chung về thủ tục hải quan mà chưa quy định thủ tục hải quan, chế độ quản lý hải quan của các loại hình hàng hoá có tính đặc thù, một số loại hình như quản lý hải quan đối với hàng gia công, nhập sản xuất xuất khẩu, chế xuất, một số loại hình tạm xuất khẩu, tạm nhập khẩu..... chưa được quy định trong Luật.

Nhằm bảo đảm tính minh bạch và tạo điều kiện để ứng dụng công nghệ thông tin để hiện đại hoá chế độ quản lý hải quan, tại các mục 3, 4, 5, 6, 7 Chương III Luật hải quan năm 2014 quy định về thủ tục hải quan đối với các loại hình hàng hóa, theo đó: các loại hình xuất nhập khẩu có chung bản chất sẽ cơ bản áp dụng chung thủ tục hải quan, đồng thời bổ sung quy định về thủ tục hải quan đối với một số loại hình hàng hóa chưa được quy định trong Luật hiện hành nhưng thực tế đã được Luật thương mại và các Luật thuế quy định như: nhập nguyên liệu, vật tư để gia công hoặc sản xuất hàng hoá xuất khẩu; một số loại hình tạm xuất khẩu, tạm nhập khẩu,...Cụ thể:

a) Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa, tài sản di chuyển, hành lý (mục 3)

Mục này gồm 13 điều (từ Điều 46 đến Điều 58) được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định hiện hành đã thực hiện ổn định, có bổ sung một số loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thực hiện ổn định tại văn bản dưới luật, như:

- Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá kinh doanh tạm nhập- tái xuất (Điều 46); Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá bán tại cửa hàng miễn thuế (Điều 47); Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá tạm nhập khẩu, tạm xuất khẩu (Điều 48); Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa phục vụ yêu cầu khẩn cấp, hàng hóa chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh (Điều 50);  Kiểm tra, giám sát hải quan đối với ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt nam tiền mặt, công cụ chuyển nhượng, vàng, kim khí quý, đá quý của người xuất cảnh, nhập cảnh xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 55).

- Về kiểm tra, giám sát hải quan, xử lý hàng hoá tồn đọng (Điều 58)

Luật hải quan năm 2014 quy định cụ thể các loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu tồn đọng được lưu giữ tại các khu vực kho, bãi thuộc địa bàn hoạt động hải quan, bao gồm:

   + Hàng hóa mà chủ hàng hoá tuyên bố từ bỏ hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc từ bỏ;

   + Hàng hóa nhập khẩu quá 90 ngày, kể từ ngày đến cửa khẩu nhưng không có người đến nhận;

   + Hàng hóa do doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi thu gom trong quá trình xếp dỡ hàng hóa;

   + Hàng hóa nhập khẩu ngoài vận đơn, bản khai hàng hóa nhưng không có người đến nhận.

Luật cũng quy định cụ thể cách thức xử lý hàng hóa tồn động, thời gian xử lý, trách nhiệm của cơ quan hải quan, tổ chức có liên quan trong việc xử lý hàng hóa tồn đọng.

b) Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu (Mục 4)

Tại Mục 4 Luật hải quan năm 2014 quy định về kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng xuất khẩu bao gồm nguyên liệu, nhiên liệu, vật tư nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu; đồng thời quy định rõ đây là đối tượng chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan từ khi nhập khẩu, trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cho đến khi sản phẩm được xuất khẩu hoặc thay đổi mục đích sử dụng. Theo đó, việc quản lý, theo dõi hàng hóa không thực hiện trên cơ sở thanh khoản từng tờ khai như hiện nay mà thực hiện trên cơ sở lượng hàng hóa nhập – xuất – tồn. Cơ quan hải quan có trách nhiệm kiểm tra cơ sở gia công, sản xuất; năng lực gia công, sản xuất; việc sử dụng nguyên liệu, vật tư nhập khẩu; việc quyết toán, quản lý, sử dụng nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng hóa xuất khẩu (Điều 59); doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện chế độ quản lý, kế toán, thống kê, lưu giữ chứng từ, sổ sách, số liệu hàng hóa đưa vào, đưa ra cơ sở gia công, sản xuất; thực hiện báo cáo quyết toán việc quản lý, sử dụng nguyên liệu, vật tư nhập khẩu, hàng hóa xuất khẩu; xuất trình sổ sách, chứng từ, hàng hóa khi cơ quan hải quan kiểm tra (Điều 60).

c) Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá tại kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ (Mục 5)

Các Điều 46 đến Điều 49 Luật hải quan hiện hành quy định các nội dung liên quan đến kho ngoại quan, kho bảo thuế nhưng chưa quy định cụ thể về điều kiện thành lập và thủ tục hải quan đối với hàng hóa ra, vào kho. 

Để minh bạch về thủ tục và tháo gỡ những vướng mắc nêu trên, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để thực hiện, Luật hải quan năm 2014 đã bổ sung khái niệm địa điểm thu gom hàng lẻ vào Điều 4 và tại Mục 5 sửa đổi, bổ sung những nội dung quy định cụ thể về: hàng hoá được gửi trong kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ; thời hạn lưu giữ hàng hoá trong kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ; điều kiện thành lập kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ; trách nhiệm của chủ kho, chủ hàng hoá và thương nhân kinh doanh địa điểm thu gom hàng lẻ.

d) Thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hoá vận chuyển chịu sự giám sát hải quan (Mục 6)

Các Điều 40 đến Điều 42 Luật hải quan hiện hành quy định các chế độ kiểm tra, giám sát riêng biệt đối với hàng hóa quá cảnh, chuyển cửa khẩu. Luật cũng không quy định rõ ràng thủ tục hải quan khi thực hiện vận chuyển loại hàng hóa này mà hiện được quy định ở văn bản dưới luật.

Về bản chất các trường hợp nêu trên đều là vận chuyển hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan nên thủ tục hải quan và chế độ giám sát đối với các loại hàng hoá này là giống nhau. Do đó, tại mục 6 Chương III Luật hải quan năm 2014 quy định thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hoá vận chuyển chịu sự giám sát hải quan. Cụ thể:

- Hàng hoá vận chuyển chịu sự giám sát hải quan bao gồm: hàng hoá quá cảnh và hàng hoá chuyển cửa khẩu.

- Về Thủ tục hải quan:

+ Khi vận chuyển hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan, người khai hải quan phải khai tờ khai vận chuyển hàng hóa. Nộp hoặc xuất trình hồ sơ hải quan.

+ Cơ quan hải quan tiếp nhận tờ khai vận chuyển hàng hóa, kiểm tra chứng từ và hàng hóa do người khai hải quan xuất trình để quyết định cho phép vận chuyển hàng hóa chịu sự giám sát hải quan.

+ Trong thời gian vận chuyển hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan, nếu người khai hải quan thực hiện việc trung chuyển, chuyển tải, lưu kho, chia tách lô hàng, thay đổi phương thức vận tải hoặc các công việc khác thì phải thông báo và được sự đồng ý của cơ quan hải quan trước khi thực hiện. Cơ quan hải quan có trách nhiệm trả lời trong thời hạn 02 giờ kể từ khi nhận được thông báo.

+ Tuyến đường vận chuyển hàng hóa chuyển cửa khẩu, quá cảnh do người khai hải quan đăng ký và được cơ quan hải quan chấp nhận.

   đ) Thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với phương tiện vận tải (Mục 7)

Mục này được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định của Luật hải quan hiện hành. Tuy nhiên, để đảm bảo tính đầy đủ, minh bạch phù hợp với thông lệ quốc tế, Luật hải quan năm 2014 quy định:

- Về thông báo thông tin phương tiện vận tải (Điều 66)

Luật Hải quan chưa quy định về việc khai báo thông tin về hàng hóa xuất nhập khẩu, hành khách xuất nhập cảnh trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh mà việc này mới chỉ thực hiện thí điểm theo Quyết định số 19/2011/QĐ-TTg ngày 23/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ.

Để bảo đảm cơ sở pháp lý thực hiện  tiếp nhận khai báo và thông quan điện tử đối với phương tiện vận tải, Luật hải quan năm 2014 bổ sung 1 điều (Điều 66) về thông báo thông tin phương tiện vận tải, trong đó quy định: Chủ phương tiện vận tải, người điều khiển phương tiện vận tải, người được chủ phương tiện vận tải ủy quyền hoặc người phát hành chứng từ vận chuyển phải thông báo thông tin trực tiếp cho cơ quan hải quan hoặc qua hệ thống thông tin một cửa quốc gia về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và hành khách xuất cảnh, nhập cảnh trên phương tiện vận tải trước khi nhập cảnh, xuất cảnh.

- Về thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải (Từ Điều 67 đến Điều 72)

Nội dung này, cơ bản kế thừa quy định của Luật hải quan hiện hành và sửa đổi theo hướng: 

   + Phân định rõ thủ tục hải quan đối với: Phương tiện vận tải thương mại và phương tiện vận tải nước ngoài không nhằm mục đích thương mại (Ví dụ: ô tô cá nhân, du thuyền, …)

   + Quy định chi tiết thời h

Tags:

Tin khác: